Thẻ: nghề truyền thống

Nghề rèn là nghề đòi hỏi những người trẻ bởi có sức khỏe dẻo dai nhưng ở làng rèn Tân Lộc (thuộc xã Tân Lộc, H. Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh) lại có trên 95% thợ rèn là những người cao tuổi.

    LÀNG THỢ RÈN TUỔI CAO NIÊN

Một trong những hộ giữ lửa lò rèn lâu đời nhất ở làng rèn Tân Lộc phải kể đến gia đình ông Hà Văn Đạm, 55 tuổi. Ông Đạm là đời thứ 6 tiếp quản và giữ lửa nghề rèn gia truyền thống của dòng họ suốt hơn 40 năm qua. Ông Đạm không biết rõ nguồn gốc của làng rèn này mà từ nhỏ chỉ nghe ông bà kể lại nghề này đã có hàng trăm năm trước. Và làng rèn ở đây từng một thời vang tiếng nhất vùng Đông Nam Bộ. Thế nhưng, theo ông Đạm, xưa kia làng rèn rất đông người làm, chủ yếu là thanh niên còn hiện nay chỉ còn lại nhưng thợ rèn độ tuổi từ 50 trở lên.

Ông Đạm bắt đầu nghiệp quay búa từ năm lên 14 tuổi. Đến khoảng  năm ông lên 18 tuổi, các ngón nghề làm lưỡi cày, lưỡi cuốc truyền thống của gia đình mình ông đều thành thạo. 20 tuổi, ông Đạm lấy vợ và có con. Hai vợ chồng ông Đạm lấy nghiệp cầm búa để mưu sinh.

Từ nghề rèn truyền thống của gia đình, thương hiệu về lưỡi cuốc, cày từ lò rèn của ông Đạm đi tứ xứ, sang cả Campuchia. Nhờ đó, ông cùng vợ nuôi cho 2 đứa con ăn học thành tài và có công việc ổn định. Nện búa trên đe tạo hình lưỡi cuốc vừa xong ông Đạm bất chợt ông thở dài nói: “Cả đời làm nghề thổi lửa nung sắt vất vả có mong dư giả, làm giàu gì đâu. Đời mình ráng chịu cực, chịu khó mà nuôi các con ăn học thành người, ra ngoài xã hội kiếm được việc làm để đỡ vất vả cái thân. Còn phần vợ chồng tôi, sức khỏe còn ngày nào thì gắn bó với cái búa, cái đe ngày đó” Ông Bổn gắn bó với nghề rèn hàng chục năm trời. Ảnh: Giang Phương

Hơn 40 năm gắn với nghiệp búa đe, dù vợ ông Đạm là bà Bùi Thị Kim Chi đã 53 tuổi nhưng vẫn miệt mài bên lò than nóng rực phụ chồng. Bà tự mình làm được hầu hết các công đoạn nghề rèn. Từ việc đơn giản nhất là đi mua sắt phế liệu, than, nung bếp lò, trui, gò sắt cho đến cầm búa cái để tạo hình …Mỗi ngày, vợ chồng ông Đạm bắt đầu công việc từ lúc tờ mờ sáng đến tận tối mịt. Ông Đạm thì cắt, trui, dần sắt còn vợ thì mài lưỡi. Riêng công đoạn đập tạo hình sắt, hôm nào vợ chồng ông Đạm không thuê được người thì phải thay phiên nhau cầm búa cái đập ra từng sản phẩm.  Hôm nào đập giỏi thì được 10-15 cái, hôm nào người đau nhức thì 5-10 cái. Bán sản phẩm, trung bình mỗi ngày 2 vợ chồng chỉ kiếm được 150.000 đồng.

 Ở một cạnh đó,  một tay quay búa lão luyện khác là ông Nguyễn Văn Bổn, 71 tuổi với trên 60 năm tuổi nghề rèn. Hơn 9 giờ sáng, lò rèn chuyên làm rựa của ông Bổn vẫn đỏ lửa. Ông Bổn cùng một thợ phụ đập vẫn miệt mài rèn ra từng chiếc rựa từ tận 4 giờ sáng.  Theo ông Bổn, ở làng rèn này từ xa xưa có một quy ước về nghề rèn để sản phẩm không bị cạnh tranh bởi người cùng làng là mỗi gia đình tự chọn một mặt hàng rèn riêng. Có lò chỉ chuyên rèn rựa như ông, có lò rèn thì chuyên làm cuốc, lò rèn dao, lò rèn liềm, lưỡi cày….Trên mỗi sản phẩm phải có ký hiệu riêng để phân biệt lò rèn và tạo thương hiệu riêng cho lò mình.

“Hồi xưa làm được ít sản phẩm hơn bây giờ mà lại có ăn hơn. Thời đó làm được 10 đồng thì đã lời 9 đồng. Còn bây giờ làm được 10 đồng thì chỉ lời 2-3 đồng. Bởi ngày xưa, tất cả các công đoạn đều làm thủ công rất mất thời gian nhưng ai cũng cần mua. Còn bây giờ, khoa học tiến bộ, nhiều công đoạn đã có máy làm thay rồi bị hàng công nghiệp cạnh tranh khốc liệt”, ông Bổn buồn bã nói.

Trải qua hơn 60 năm gắn bó với cái búa, cái đe trong lò rèn, ngồi lại ngẫm nghĩ ông Bổn buồn bã nói: “Người trẻ bây giờ nói đến nghề rèn ngán cả rồi.  Còn tôi thì già rồi,  làm được ngày nào thì hay ngày đó chứ sau này không còn ai theo được nghề này”

Còn theo ông Bùi Văn Dọ, 64 tuổi, Trưởng ấp Tân Lộc, xã Tân Lộc, H.Trảng Bàng, thống kê sơ bộ thời điểm đó lên đến khoảng 300 – 400 lò, trong khi hiện nay làng rèn chỉ còn lại 47 hộ.

Bài, ảnh: Giang Phương

Read Full Article